Chương
7
Thằng Đặng kề vai vô gánh cháo rồi cất lên đi te te. Đối với nó gánh cháo không
nhẹ mà cũng không nặng, nhưng mỗi lần đưa má nó vô chợ thì nó buồn buồn. Vì má
nó không ngó ngàng tới nó, chỉ coi nó như đứa ở và phó thác cuộc đời của nó cho
cậu Năm.
Từ
ngày ra khỏi cái chuồng trâu của ông Hương thì nó bắt đầu suy nghĩ. Nó bám riết
với cậu nó để sống. Cậu nó coi nó như con ruột.
Vừa đi vừa suy nghĩ nên nó quên khuấy đi gánh nặng trên vai. Má nó đi sau xách
cái đèn chai soi đường. Ánh đèn yếu ớt làm cho mặt lộ vốn đã mấp mô khó bước
hơn. Nó đã đi hết con lộ đất, bắt đầu đạp đá nhọn đau chân thì biết đã tới chợ.
Đi
một quảng ngắn thì tới tiệm thợ thiếc chuyên môn hàn soong chảo lủng, qua tiệm
này là đến tiệm thuốc Bắc, kế tiệm thuốc Bắc là tiệm tạp hóa của chú Bầu. Thằng
Đặng có cảm tỉnh với ông chệt già này nhất,, vì bà vợ có thân hình ú núc tòe loe
như trái bầu thúng. Như vậy để khỏi lẫn với ông chệt khác cũng có tên là chú
Bầu. Nhưng chú Bầu này lại ốm, cao lỏng khỏng nên bà con gọi là Bầu C. Ngựa. Ở
chợ này không có chú chệt nào không mang một biệt danh.
Qua khỏi tiệm chú Bầu thì đường trải đá đỏ bằng phẳng dễ đi. Nó đi tắt qua sân
cỏ trước cửa chùa Bà của người Tàu để đến chợ gần hơn. Cái sân cỏ này là bãi
trống để giành cho những gánh hát bội hát tiều vào dịp Hạ Điền, Thượng Điền hoặc
các kỳ lễ thường niên khác.
Đang đi bỗng thằng Đặng vấp một vật gì. Nó chúi lúi cố gượng nhưng không được
rồi ngã sập.
Ụp! Xoảng! Trả cháo bằng đất nung vỡ toang. Chén dĩa thau chậu đổ vỗ văng ra tứ
tung. Thằng Đặng lồm cố ngồi dậy. Má nó không hỏi nó có sao không mà lại la lên
giận dữ:
-
Bể tiêu trả cháo của tao rồi!
Thằng Đặng chỉ còn có nước khóc để chuộc tội. Nó khóc mùi mẫn, tức tưởi, ngọt
ngào.
-
Hu hụ..húc húc...hu ụ.
Trong lúc đó lại có tiếng cười rúc rích khoái trá. Thằng Đặng biết ngay có đám
con nít chợ đã từng đánh nhau với nó. Thằng Đặng vội vàng chụp lấy đòn gánh và
đuổi theo hai ba cái bóng đang lùi nhanh.
Đã nhiều lần thằng Đặng không nhịn được trước tụi du côn chợ này. Một hôm khi
nó đưa má nó vô chợ vừa quay ra thì nó đụng thằng Hường chọc tức nó.
Thằng Hường hất mặt: - Má máy bán cháo gì vậy?
-
Cháo lòng chớ cháo gì?
-
Cháo lòng sao có c. heo trong đó?
-
Đừng nói bậy, má tao bán ế.
Thằng Hường đưa ra một cục đen sì:
-
Tao lấy trong trả cháo của má mày nè! Đây là ruột cùn heo.
-
Thằng Đặng giận nứt gan nhưng cố nhịn và đi qua. Một hôm khác, thằng Hường và
hai đứa bạn nó lại chận đường, Hường lại trêu tức:
-
Ê, mà máy bán chào lồ...heo!
Bọn kia phụ họa: - Cái thằng ăn cháo lồ...heo!
Thằng Đặng thấy chúng nó đông đứa nên cũng nuốt giận đi qua. Nhưng lần này thì
nó không thể im lặng được nữa.. Nó vác đòn gánh đuổi theo đến tận cửa Chùa Bà.
Trời bất dung gian đảng. Chúng bị thằng Đặng phện bằng đòn gánh. Thằng Đặng nện
cú nào cú nấy như thiên lôi giáng. Thằng thì chạy thoát, thằng thì ngã lăn,
nhưng thằng Hường chống cự. Nó chụp được đầu đòn gánh và định giật đi. Hai đứa
còn đang giằng co trước cửa chùa thì có tiếng quát:
-
Tụi bay làm loạn hả? Nắm đầu nó cho tao. Một tiếng oai nghi ra lệnh.
Đó là toán dân canh của nhà làng. Từ ít lâu nay hương chức đặt lệ canh tuần.
Ông Hương Quản có súng, tiếng rằng hằng đêm vô nhà việc đốc thúc việc này, nhưng
kỳ thực thì ông chỉ nhậu ở dưới đò bà Mầm.
Thằng Đặng và thằng Hường bị dân canh bắt đưa lên nhà việc và tống vô bếp. Chờ
tới giờ hầu Hương Chức sẽ xử phán. Bây giờ má thằng Đặng mới thấy thương con. Vì
mình mà con bị bắt bớ. Biết đâu chẳng ở tù. Trẻ con mà có tội thì cũng bị đày.
Bà quơ vội ba cái chén bể muỗng gãy bỏ vô thúng rồi hóng mắt nhìn qua mớ cháo đổ
lan trên cỏ trước khi đi vào nhà việc tìm con.
Hai ông dân canh và ông Thường Xuyên vừa thấy người đàn bà thì giật nẫy người.
Sao lại có một mụ đàn bà phương phi thế này bán cháo ở chợ mà mình không biết?
Vừa ra oai hò hét với hai thằng nhóc, các ông bèn đổi nét mặt, vui vẻ ngay.
-
Bà là má của đứa nào?
-
Dạ thằng Đặng là con tui.
-
Thằng Đặng là thằng nào?
-
Dạ thằng gánh cháo.
-
Cái trả cháo đả bể rồi, biết thằng nào gánh thằng nào không?
-
Dạ cái thằng cầm đòn gánh.
-
Lúc tôi tới, hai thằng đều giật cây đòn gánh, biết thằng nào là con của bà?
-
Thằng ngồi trong hốc kia.
Ba ông lớn thay phiên nhau hạch hỏi làm cho bà bán cháo quay cuồng, nhưng cũng
chưa chịu buông thạ. Mỗi ông tùy hứng buông một câu, như một cuộc phỏng vấn
chính thức.
-
Bà tên gì, ở ấp nào, làm nghề gì, sao cho con bà đánh người ta?
-
Dạ tôi tên Mùi, ở ấp ...a..a...gần nhà ông Hương ...
-
Ở đây có 12 ông hương ai biết ông hương nào?
-
Dạ Ông Hương có cây súng.
-
À,, ông hương Quản. Có bà con gì không?
-
Dạ có
-
Bà con ra sao?
-
Dạ con tôi chăn trâu cho ổng.
Ba công cười ngặt nghẹo. Ông Thường Xuyên nói:
-
Vậy thì hồi trước ông nội tôi cũng có bà con với ông Cai Tổng chớ bỏ sao.
Một ông dân canh chen vào:
-
Chồng bà đi đâu mà con bà phải gánh cháo nặng nề như vậy?
-
Dạ chồng tôi bỏ tôi về Tàu lâu rồi.
Ba ông bắt mánh hỏi tới. Mà Mùi phải khai hiệt. Ba ông liếc nhau có vẻ tương
đắc. Một ông hỏi: - Về bển gặp vợ lớn nên mắc gốc qua sao được mà qua!
Trời đã sáng thiệt mặt, nhưng Hương chức chưa đến. Giờ làm việc của mấy ổng rất
dây thun. Những ông tới sớm ngồi chờ một ông tới trể. Chờ không được thì kéo
nhau đi uống cà phê. Có bữa cả bàn hội tề “bận” đi ăn giỗ nên không đến, dân có
việc phải chờ hoặc về nhà rồi sáng mai trở vô. Đâu có ai dám kêu ca gì.
Hai ông dân canh dượt sơ cho vui rồi kiếu từ vì phiên tuần của họ đã hoàn thành
mỹ mãn. Còn lại một mình, ông Thường Xuyên bèn hỏi cung thằng Đặng. Thằng Đặng
khai tự sự đầu đuôi.. Ông ta muốn gieo cảm tình với má nó, nên nghe xong ông
quay sang thằng Hường: - Sao mày dám nói cháo lòng có cứ.. heo ở trỏng?
-
Da....da... ạ.
-
Lại còn dám nói cháo ruột cùn heo. Mày quá lằm rồi nghe.
-
Da... a...
-
Lại còn dám nói cháo lồ.. heo nữa. Mày có biết không? (Ông ta đặt điều để làm
tội thằng Hường nặng thêm) Mỗi sáng mấy ông Hương chức đều lót lòng một tô cháo.
Như vậy mầy nói mấy ổng ăn ...ruột cùn và lồ...heo hả? Tội mày lớn lắm. 10 năm
tù ở, nói cho mày biết.
Thằng Hường nghe đến đó thì hồn via lên mây. Nó lắp bắp không ra tiếng. Ông
Thường Xuyên hỏi thêm:
-
Đó là tội phạm thượng “khi quân:” nghe mày. Tía má mày có ở nhà không?
-
Dạ có.
-
Lát nữa tao bắt lên đây trầu rượu lạy xin lỗi. Còn mày thì tao tống đi Bà Rá Yệm
ở đó 10 năm cho biết. Ủa mà quên, má mày phải bồi thường trả cháo lòng cho người
ta nữa chớ. Con dại cái mang, không cãi được.
Thằng Đặng lên chưn “tâu” tiếp:
-
Dạ thằng này nó nói nó không sợ ai hết.
-
Tao nói chuyện với tía má nó chớ không nói chuyện với nó.
Chập sau các Hương chức rải rác đến. Ông Hương Quản cũng có mặt. Ông bệ vệ đi
vào với cây súng hai lòng trên vai.
Người Thường Xuyên trở lại chức năng bình thường, nghĩa là “vâng dạ” với các vị
Hương chức. Anh ta bẩm thuật lại mọi chuyện cho ngài Hương Quản. Vì nội vụ ném
về việc “phá rối trị an”.
Ông Hương Quản nghe xong thì ngờ ngợ bèn bảo đưa hai thằng nhóc lên trình diện.
Vừa trông thấy thằng Đặng, ông khoát tay:
-
Cho nó về rồi bảo người Thường Xuyên - Trả thằng kia về cho cha mẹ nó và dặn kỹ
không để cho nó phá xóm nữa. Rồi kêu người đàn bà lên nghiêm sắc mặt:
-
Việc trẻ con đánh lộn làng xã không hơi sức đâu mà xử. Trả cháo của chị, tôi sẽ
cho xuất công nho ra bồi thường. Chị vừa ý chớ?
Bà
Mùi suýt sụp lại để đáp đền lượng biển trời của ông Hương Quản anh minh. Không
ai ngờ ông xử phạt nhanh nhẹn và công bình đến như thế.
Ông còn ân cần khuyên bà Mùi kiên nhẫn làm ăn nuôi con đợi ngày “chú Tửng” ở bên
Tàu về sum họp nhứt gia. Bà Mùi cảm động đến không nói ra lời. Ông quả thiệt
xứng mặt một đấng phụ mẫu chi dân.
... Thằng Đặng chạy bay tóc trán về chòi Năm Mẹo. Thấy mặt mày cháu hớt hãi Năm
Mẹo mới hạch hỏi. Ban đầu thằng Đặng còn chối, nhưng sau cùng nó khai thiệt.
Năm Mẹo nói: - Cậu không để cho cháu đi chợ khuya nữa đâu.
-
Rồi ai đưa má cháu vô chợ.
-
Để cậu tìm cách. Chớ nếu để cháu đi vào lúc khuya thế nào tụi con nít chợ cũng
kiếm cách trả thù. Mà lần tới nó không chỉ giăng dây ngang đường làm cho cháu
vấp té mà thôi đâu. Ở đời này người ta không sợ chó mà chỉ sợ chó cắn trộm mà
thôi cháu ạ.
Thấy Năm Mẹo lo âu, thằng Đặng cũng buồn nhưng tâm trí non nớt của nó không vói
tới những chuyện cao xa như vậy. Nó vác sào chống xuồng đuổi vịt ra đồng. Bữa
nay mở cửa chuồng hơi trể nên đám vịt hãng lao nhao ngóng cổ qua bức mành mành
đòi trả tự do mỗi sáng.
Cánh đồng mênh mông đã gặt xong. Phần lớn mặt ruộng đều khô nẻ, nên thằng Đặng
lùa vịt xuống hà lãng để rỉa tép cá. Bầy vịt do cầu nó gầy cho ban đầu được hơn
trăm con mới vừa bận áo lá. Từ lâu thằng Đặng xa thằng Tư Cồ và chúng bạn nên
không có dịp đánh trỏng , đánh u, mò cá. Nó đi chăn vịt ở nơi ruộng nước còn bọn
kia thả trâu nơi vùng khô chỉ thấy dạng hú hí vớ nhau cho đỡ nhớ.
Nó nằm trên xuồng lấy chiếc nón lá úp mặt mơ màng nghe gió thổi vo vo qua những
bờ trâm bầu mà lim dim muốn ngủ. Nó mường tượng lại buổi sáng. Nó không nhớ đã
đánh những thằng nào, chỉ nhớ nó quất thẳng tay.
Nó
nhớ cái trả cháo đổ tràng lan trên mặt đất. Lúc nó được thả, đi ngang qua đó, nó
hãy còn trông thấy con chó chợ ủi mũi đánh hơi tìm phèo, gan và thịt heo. Nó
tiếc quá! Nó nuốt nước miếng. Nó ít khi được má nó cho một tô đầy và nhiều thịt.
Bỗng nó nghe nhột lỗ tai. Nó ngồi bật dậy, tưởng đỉa chui vô. Nhưng không phải.
Đó là miếng bông gòn có thấm mỡ trăn của ông Chín trị điếc cho nó. Nó sợ mà nghĩ
thầm. Điếc một bên còn đỡ đỡ, điếc luôn bên kia, lấy gì mà nghe tiếu lâm của
thằng Tư Cồ?
Rồi nó vụt nhớ tới bữa ở chuồng trâu nghe Tư Cồ kể chuyện “Xập Vách”. Nó cưới
hắc hắc một mình. Nó nhớ cô Mười không hiểu câu chuyện nên không sợ “Xập vách”.
Bữa đó nó bắt thăm trúng cô Tám. Cô Tám...ôi chao cái mặt không được đẹp. Có lần
gặp cô đi ngang, thằng Tư Cồ kêu: - Cô Tám ơi, tôi có bài thuốc hay lắm để dành
cho cô đây!
Cô
Tám dừng lại hỏi thuốc gì. Tư Cồ bảo xức vô thỉ da mặt láng liền. Cô mừng quá
hỏi Tư Cồ nói tỉnh khô:
-
Cô đi mua một buồng chuối hột nghe chưa?
-
Rồi sao nữa?
-
Đem về cất trong buồng, đừng cho ai thấy, hễ có người thấy thuốc không linh.
-
Rồi làm gì?
-
Mỗi buổi sáng ăn hai trái, trưa ăn hai trái, tối trước khi đi ngủ ăn hai trái
nữa. Dự chi mỗi ngày ăn sáu trái. Nhưng nhớ đừng uống nước.
-
Được rồi. Không uống nước.
-
Ăn như vậy sáng ra cô thấy mắc đi cầu là thuốc có kết quả. Nhưng phải chờ ba
ngày liền thì kết quả hoàn toàn.
Cô Tám sốt ruột hỏi tới tấp. Tư Cồ không nín cười được mới bèn nói toạc ra:
-
Ăn chuối hột khó đi cầu, cô phải rặn. Càng rặn thì thịt trên mặt càng lối ra bít
hết mấy nốt ruổi.
Nghe xong cách trị mặt rổ, cô Tám nổi cáu vác củi dừa đập. Thằng Tư Cồ chạy
suýt chết. Cô bảo từ rày gặp nó ở đâu chửi nó ở đó và cấm cửa nó luôn.
Thằng ác quá! Nói chơi gì mà nói như vậy!
Nhưng rồi thằng Đặng nghỉ làm, ông Hương không có người coi trâu. Ông phải nhờ
thằng Tư Cồ coi choàng thêm cả đôi trâu của ông. Cố nhiên cô Tám không thể cấm
cửa cũng không thể chửi nó được. Ngược lại hai bên làm lành với nhau và coi sự
chọc ghẹo xưa chỉ là một chuyện vui.
Chương
8
Ông Hương về nhà khoa tay nói với vợ :
-
Việc gì tôi đã tính làm là phải thành.
Cũng như những lần khác, hễ thấy ông về nhà là chiếc ghè tương bà nổi cặn nổi
cáu lên.
-
Bộ đò bà Mầm chìm rồi sao ông về đó?
-
Bà sao cứ hoài vậy. Tôi đi lo việc làng việc xóm chớ phải đi chơi đâu.
Ông hương biết bà Hương cũng như Giảo Kim ra trận. Hễ ông đỡ nổi ba búa đầu,
tới búa thứ ba thì nhẹ re cho nên ông cứ cười trừ mặc cho bà đay nghiến.
Ăn
cơm xong, ông lên nhà cầu ngồi rồi lấy giọng nghiêm chỉnh để phản công:
-
Bà lại đây tôi nói chuyện cho bà nghe.
Bà
Hương còn hậm hực nhưng thấy đức lang quân đấu dịu thì cũng hơi nguôi. Bà nói:
-Nếu không nhờ thầy Tư thì tôi đã bỏ cái nhà này mà đi lâu rồi!
-
Thầy Tư ếm mấy con yêu đó là một chuyện nhưng nếu không có thầy nầy (ông hương
vỗ ngực) thì không xong... vụ con Tám đâu.
Ông Hương ngưng ngang để ngầm hỏi bà xem sắp nhỏ có đứa nào ở nhà không? Bà
Hương bảo:
-
Tụi nó đi xóm, đi giã gạo vần công hết rồi.
-
Còn thằng Sáu?
-
Nó ở luôn dưới chòi Năm Mẹo, coi ấp trứng vịt chớ đâu có về nhà.
-
Thằng đó làm lộ cơ mưu, hỏng hết!
-
Mưu gì mà dữ vậy?
-
Việc nhỏ mưu nhỏ, việc lớn mưu lớn, không có việc gì vô mưu mà thành được nghe
bà!
Ông Hương chậm rãi kể lại chuyện xử vụ thằng Đặng hồi sáng và kết luận:
-
Mấy ông bàn hội tề phục tôi sát đất! Không ai dè tôi phán xét như Khổng Minh
vậy. –Rồi tiếp – Qua việc thằng Đặng đánh tụi con nít chợ, tôi rất mừng.
-
Đánh lộn, đánh lạo, du côn du kề như vậy mà mừng.
Ông Hương cười hề hề:
-
Đàn bà tóc dài mà trí đoản. Bà biết một mà không biết hai. Một thằng con trai có
tính khí kiên cường như vậy thì lớn lên mới có gan giữ gìn tài sản cho mình chớ.
Nếu nó hèn nhát thì bị người ta lấn lướt giật hết của, chỉ đứng khoóc thì còn
nhờ cậy gì.
Bà Hương thấm ý nhưng làm bộ gạt phắc:
-
Nó đã là rể chưa mà chắc ba bó một giạ?
-
Việc gì cũng phải từ từ chớ. Giục tất bất đạt mà bà. Để tôi nói bà nghe. Tôi sẽ
cho má nó lãnh bấn công- tin cho trường. Bây giờ có 50 học trò ở xa nhà. Chúng
không có chỗ ăn cơm trưa. Tôi sẽ thay mặt bàn hội tề đến xin ông Hội Đồng một số
tiền phúc thiện mỗi tháng.
-
Biết ổng có cho không mà xin
-
Ổng là người có học, có nhơn có đức. Đặc biệt ổng rất thương học trò. Bà không
nghe chuyện của ổng vứa rồi sao?
-
Chuyện ổng cưới vợ bé thứ mười trẻ măng đó bà?
-
Chuyện đó là chuyện tất nhiên rồi. Vua có cả ngàn cung nữ, ba bốn chục thứ phi,
thì hội Đồng có bằng ấy vợ, lạ gì. Nếu không vậy ai ham làm vua, làm Hội Đồng,
Cai Tổng mần chi? Nhưng không phải ổng thì ngày ngày tối tối lo cho mấy bà vợ bé
mà thôi, Ổng còn làm việc xã hội nữa chớ. Nhìn người không nên chỉ nhìn một phía
của họ mà phải nhìn khắp mặt mới đúng. Vừa rồi ổng chở một ghe chài lúa lên
Saigòn bán. Bận về ổng đi xe hơi. Đi ngang Mỹ Tho ổng thấy một trường cũ ọp ẹp,
ổng bèn cho cả số bạc bán lúa để cất trường mới. Chuyện đó ổng có nói với ai
đâu. Cho tiền cất một ngồi trường ổng còn dám cho huống chi tiền ăn trưa cho mấy
chục học trò.
Bà
Hương sốt ruột: - Rồi sao nữa, nói mau đi, cứ vòng vo Tam Quốc.
-
Thì sẽ cho má thằng Đặng nấu cơm trưa cho học trò. Cả hai việc đều tiện lợi và
như vậy thằng Đặng sẽ không phải gánh cháo lúc khuya để bị tụi con nít chợ chận
đường chọc phá.
-
Rồi ăn thua gì đến việc gả con Tám cho nó?
-
Ông hương chẫm rãi tiếp:
-
Cất nhà trước nhất phải lo cái nền. Nền vững nhà không đổ. Mình không thể gả con
cho thằng ở đợ của mình. Do đó tôi cho cậu Năm nó đem về gầy dựng cho nó có chút
ít của cải và mất cái tiếng ở đợ đó. Bà thấy chưa? À, bây giờ nói tới việc suôi
gia. Tôi không thể ngồi ngang với con mẹ bán cháo chợ. Do đó tôi sẽ đưa bà ta
lên.
-
Bà Hương háy một cái trời sập:
-
Đưa lên đâu?
-
Nữa! Bà cứ giữ cái tật ghen bóng ghen gió đó hoài. Tôi cũng biết ăn coi nồi ngồi
coi hướng chớ đâu phải đụng gì cũng ăn, đụng đâu ngồi đó. Tôi chơi bời nhưng
không mang tiếng xấu cho bà. Tôi cho má thằng Đặng nấu cơm rồi tìm cho bả một
căn phố, dần dà bả sẽ bán cháo ngay trước cửa nhà.
Bà Hương đứng dậy ngoe ngoải bỏ đi. Ông hương kéo lại:
-
Lại đổ cái ghè ra nữa rồi.
Bà
Hương trợn mắt:
-
Bán cháo để ông mua hả?
Ông Hương cười:
-
Thằng cha Chánh Lục Bộ mới chết vợ. Tôi sẽ cắp đôi cho nó. Coi bộ xứng lắm.
Thằng chả chỉ sồn sồn, con mẻ thì cứng cạy, bên đường bên đậu hùn nhau nấu chè,
bà hiểu không?
- Coi chừng ông mai tốt số đó chớ.
-
Không phải đâu bà. Chừng vài năm, con mẹ bán cháo lòng sẽ trở thành bà Chánh Lục
Bộ. Chừng đó mình làm suôi. Hai nhà đâu có chênh lệch bao nhiêu. Mình khỏi mang
tiếng gả con cho thằng con trai của con mẹ bán cháo lòng, bà hiều chưa?
Bà Hương không ngờ chồng cao kiến như vậy nên ngồi làm thinh. Ông hường được
trớn tiếp:
-
Con gái mình có chỗ kém khuyết, mình không thể bắt chước cái cặp “kém môi mép và
thiếu chân đứng” được nên mình phải đi lối khác. Nếu không tính sớm để con gái
mình vừa quá lứa vừa mặt rổ sẽ ở vá suốt đời. Việc thứ nhất là cho thằng Đặng
nghỉ việc để nó về nhà tránh tiếng ở đợ cho mình, mình đã làm xong rồi. Việc thứ
hai là thay lớp bán cháo cho má nó. Việc này hơi khó.
-
Tại sao vậy?
-
Thì thằng Cha Chánh Lục Bộ nhát đàn bà, cho nên trong bàn hội tề chỉ có mình chả
là một ông một bà thôi, còn ngoài ra đều một ông hai ba bà hết.
-
Như vậy ông tốt chớ sao!
-
Tôi nói thiệt bà cỡ như má thằng Đặng tôi búng tay cái “chóc” là được liền,
nhưng tôi thấy không có tiện. Chơi bời ở đâu cũng được, nhưng trong xóm mình
phải đàng hoàng vì ngày nào cũng thấy mặt nhau.
Ông Hương tiếp:
-
Cái khó thứ hai là con mẹ thằng Đặng hiện đang có nhân ngãi, không biết nó có
chịu rứt ra để làm bà Bộ hay không. Trước nhất tôi phải bảo nó nhận nấu cơm
công- tin cho học trò cái đã. Miễn giữ con mẻ ở chợ thường xuyên thì tôi sẽ tạo
cơ hội cho thằng chả tới tò vè.. Đàn bà thì ham chồng quyền thế. Vừa có việc làm
ăn tiện lợi lại có chồng hương chức, không tốt hơn buôn bán vất vã và cặp với
thằng dân quèn hay sao? Cho nên tôi chắc sớm muộn gì hai bên cũng xáp nhau.
Bà Hương suy nghĩ một hồi rồi nói:
-
Nhưng việc khó nhất là gả con Tám cho thằng Đặng.
-
Khó làm sao?
-
Nó tuy nghèo nhưng không tật nguyền. Chỉ cần bộ quần áo mới tròng vô là nó trở
thành một đứa phải thế rồi. Còn con mình mặt rổ chằn như vậy không che dấu được.
Con trai có đứa nào lại chịu cưới vợ xấu xí?
Ông Hương gạt phắt:
-
Nói như bà thì mấy người mặt rổ ế chồng hết sao?
-
Không phải ế, nhưng khó lấy chồng hơn người khác.
-
Bà đề tôi lo.Cứ tiến hành như nó đã chịu cưới con Tám. Nếu có trở ngại thì tôi
sẽ tìm kế.
Bà
Hương lại hỏi tiếp:
-
Còn vụ thằng Sáu, ông tính sao? Phải cưới vợ cho nó trước rồi gả con Tám chớ. Em
mà có gia đình trước anh coi sao được? Hay là điềm đã ứng ở buồng cau trổ ngược?
- Được chớ sao không được...ta?
Bỗng đâu có tiếng dội từ trong buồng.
Cậu Sáu sùng sững đi ra, múa tay:
-
Ba cứ gả con Tám con Chín con Mười cho thằng Đặng đi. Xong rồi ba hãy cưới vợ
cho con. Ông hương quát: Mày điên hả Sáu?
-
Con không điên đâu ba. Cái buồng cau trổ ngược đó là điềm báo trước thằng Đặng
chăn trâu trở thành bá hộ. Ba không gả em con cho nó thì nó cưới người khác. Các
em con sẽ lỡ thời ở vá hết cho coi. Nói xong cậu Sáu hươi tay múa chân:
Bậu lỡ thời như cá cắn câu
Cá cắn câu người ta còn bắt
Bậu lỡ thời như hạt mưa sa
Hạt nưa sa người ta còn hứng
Bậu lỡ thời như trứng gà che
Trứng gà che người ta còn bán
Bậu lỡ thời như ván đóng đinh...
Ông hương quát, cắt ngang bài vè ứng khẩu của cậu Sáu. Cậu Sáu bỏ đi thẳng.
Bà
Hương lắc đầu:
-
Nó càng ngày càng khùng tới.
-
Tại bà không chịu cưới con Láng cho nó chớ sao!
-
Tôi nghe vụ con ông Cả cũng không đi tới đâu mà.
Ông Hương nói luôn:
-
Tôi có hỏi ổng ở trong nhà làng thì ổng nói đã tìm xong nơi chốn cho nó, nhưng
nó lại không chịu. Nó khăng khăng đòi cưới con Láng. Cho nên sắp đám cưới lại
vác của đi trả cho người ta.
-
Vậy tôi tưởng đã xong rồi chớ!
-
Xong gì mà xong. Con Láng còn trơ trơ đó.
Bà Hương nói:
-
Lúc này thằng Sáu mình ăn dầm nằm dề dưới chòi vịt của Năm Mẹo. Một bữa tôi dỗ
ngọt nó, nó khai cho tôi nghe hết.
-
Nó khai làm sao?
-
Nó nói nếu nó đồng ý gả em gái cho thằng Đặng thì Năm Mẹo sẽ nói gia đình con
Láng giùm cho.
-
Bà liệu Năm Mẹo nói được không?
-
Ai đoán nổi! Biết con Láng có chịu con mình không?
-
Tại bà, nên có cái “ngấn” cũ đó rồi bây giờ muốn xóa đi cũng khó.
Bà Hương thở dài:
-
Cái thằng in là quỷ nhập. Nó ăn nói có khi như thánh, có khi như ma quỷ. Đó ông
thấy hồi nãy không? Có lần tôi hỏi nó ở đâu mà nó những câu vè đó? Nó bảo... đêm
nào nó ngủ cũng thấy một ông già râu bạc tới dạy nó.
-
Tầm bậy! Ông già nào mà dạy!
-
Hôm tôi mời ông thầy Tư tới ếm, nó lẻn ra sau vườn đốn quách cây cau có buồng
trổ ngược.
-
Tôi biết mà.
-
Nó bắt con gà mái gáy ăn thịt luôn.
-
Con gà thầy Tư bảo là “gà bà” đó hả? Hì hì...tôi bảo là không có ma quỷ gì hết.
Cau trổ buồng ngược, gà mái gáy như vậy cũng là chuyện thường thôi. Bà cứ giãy
đông đổng lên cho là điều gỡ rồi đi mời thầy tới làm om sòm rạ.. Bây giờ trong
xóm ai ai cũng đồn rằng nhà mình có quỷ hiện hình. –Ông Hương vụt đứng dậy bảo
–Đâu để tôi xem mấy gốc cau!
Rồi ông đi ra sau vườn. Cây cau có buồng trổ ngược bị đốn ngã vắt ngang ao cá
nuôi vẫn còn nắm đó, đầu gục xuống nước. Tàu lá phập phều đã thối ra.
-
Kêu tụi nó lôi cây cau lên.
-
Thầy Tư bảo không được động tới. Đó là xác con yêu chớ không phải cây cau đâu!
–Bà trỏ gốc cau –Ông thấy máu quanh gốc cau không?
Ông hương nhìn bùa chú cắm dọc mé mương, cái rách nát cái gãy cụp, chữ đỏ trên
giấy vàng nhòe nhoẹt. Ông không tin có ma quỉ nhưng ông cũng không dám phá bỏ
bùa phép của thầy Tư. Ông nhìn suốt hàng cau dọc mé mương. Mỗi gốc như một con
người mang trên ngực một lá bùa vàng chữ đỏ.
Bà
Hương giải thích:
-
Thầy Tư bảo nếu không trấn ếm, hàng cau này đều trổ buồng ngược và đại họa sẽ
đến nhà mình. . Ông Hương không nén giận được nữa. Ông bước tới đưa tay giật lia
lịa vò nát ném xuống mương:
-
Đại họa gì, đồ thằng thầy điên. Từ rày bà không được rước thằng chả tới nữa.
Bà Hương không ngăn kịp hành động chớp nhoáng của chồng,đành đứng ngó.
Chương
9
Năn Mẹo đang lui cui lựa hột vịt lộn thì có tiếng hỏi:
-
Cậu Năm làm gì đó?
Năm Mẹo ngẫng lên: Thì ra má thằng Đặng, chị Tư của Mẹo. Lâu nay Năm Mẹo giận
ngầm người chị ruột về việc không ngó ngàng tới thằng Đặng, mà cứ bỏ phế cho
mình coi sóc. Ngoài việc gánh cháo lòng, thì hầu như thằng Đặng không có dịp gặp
mẹ. Năm Mẹo coi việc nuôi nấng thằng bé là nghĩa vụ của mình. Dầu sao nó cũng là
máu mủ của Năm Mẹo. Thấy chị tới, Năm Mẹo không săn đón niềm nở, chỉ đáp một
cách lạnh nhạt rồi tiếp tục công việc.
Chị Tư lại ngồi bên cạnh em à nhỏ nhẹ.
-
Cậu giận tôi làm chi tộ nghiệp cậu Năm.
-
Tôi có giận chị đâu!
Chị Tư phân trần:
-
Tía thằng Đặng đi về Tàu chắc là không trở quạ Trước khi đi y có dặn, nếu trong
32 năm...
-
Tôi biết rồi! –Năm Mẹo xua tay.
-
Cậu cũng biết mà cậu Năm. Đàn ông ở một mình thì dễ, còn đàn bà ở một mình thì
khó. Kẻ đi qua dòm, người đi lại ngó. Ai muốn chọc ghẹo cũng được. Cậu không
nghe câu hát đưa em “Đi buôn thiếu vốn anh dùm. Ở nhà chị đó chú trìm chú dê...
” hay sao? Đến đổi ông trùm mà cũng chọc ghẹo được nữa là ai, tôi làm sao sống
để nuôi con. Tôi thương con tôi nhưng tôi thương bằng cách khác... – Chị Tư
nghẹn ngang.
-
Bằng cách bỏ nó cho qua diều xớt phải không?
-
Tôi bán cháo có bao nhiêu tiền tôi giữ nguyên để cưới vợ cho nó. Chớ tôi đâu dám
xài. Nay nghe cậu định hỏi vợ cho nó thì tôi đem tiền đến cho cậu đây.
-
Chị biết năm nay nó bao nhiêu tuổi không?
-
Nó tuổi Tuất ẩn tuổi của ông già nó – Chị Tư vừa nói rồi móc gói bạc trong lưng
ra.
Năm Mẹo lắc đầu:
-
Tôi đủ sức, chị không phải lọ Hơn nữa thằng Đặng cũng biết thân nó, cha mẹ còn
đủ mà như mồ côi.
Chị Tư rơm rớm nước mắt:
-
Không phải vậy đâu Năm à! Tôi biết cậu gầy dựng vốn liếng cho nó tư lâu. Tôi
cũng thầm mang ơn cậu. Tôi thấy nó biết nghe lời cậu tôi mừng lắm. Do đó tôi
không đưa tiền cho nó. Nó còn nhỏ không biết cất tiền. Bây giờ tôi giao số bạc
này cho cậu.
Năm Mẹo làm thinh. Chị tư tiếp:
-
Bữa nay tôi tới đây là để nói với cậu một chuyện khác chớ không phải vụ tiền
bạc. Số là ông già thằng Đặng về bển... rồi có vợ Ở luôn bên đó.
-
Sao chị biết?
-
Có thơ qua mà. Không phải gởi cho tôi mà gởi cho người khác.
-
Gởi cho ai? Người khác là người nào?
Chị Tư làm thinh một lúc rồi mới chậm rãi:
-
Cậu Năm biết ông Tàu Phú Xường ở trong chợ mình không?
-
Nghe tiếng chớ không biết.
-
Ông già thằng Đặng gởi cho ổng.
-
Rồi ăn thua gì tới chị chớ? –Năm Mẹo quát.
Chị Tư vẫn trấm tĩnh vó vẻ tự chủ, hồi lâu mới tiếp:
-
Ông già thằng Đặng gả tôi cho ổng.
-
Hả... ả? Năm Mẹo kêu lên. Mấy cái trứng trong tay rơi xuống đất.
Chị Tư nhìn những trứng vỡ tan nhầy nhụa trên mặt đất mà không nói gì.
Năm Mẹo lại gắt:
-
Y gả cho chị chệt Xưởng?
-
Phải!
-
Đời nào mà lại có sự kỳ cục như vậy?
-
Ổng nói ổng không trở qua nữa.
-
Đó, thấy chưa? Ai biểu chị ham chồng các chú. Bây giờ nó về Tàu.
-
Không phải ham cậu Năm à! Hồi đó ba đau nặng không có tiền hạy thuốc nên má có
hứa với ổng là nếu ổng giúp tiền cho ba uống thuốc mạnh thì sẽ gả tôi cho ổng,
chớ đâu phải tôi ham. Thiếu gì người mình mà tôi đi lấy chồng các chú cho chị em
bạn chê cười.
Nghe chị phân trần. Năm Mẹo thấy thương chị. Chính hồi đó Năm Mẹo cũng thấy
thằng chệt đó dễ thương.
Năm Mẹo dịu giọng:
-
Bây giờ chị tính sao?
-
Ông già thằng Đặng có nói rõ trong thơ, bảo ông Tài Phú phải đối xử tử tế với
tôi và phải nuôi thằng Đặng cho nó ăn học.
-
Ăn ở chuồng trâu và học với ba con vịt hãng kia kìa.
-
Tôi rối trí nên muốn hỏi cậu.
-
Ai biết đâu chị, chị làm sao thì làm. Còn thằng Đặng thì sắp cười vợ rồi,, đâu
cần ai nuôi nó nữa.
Chị Tư biết em đang hờn mát, nên kiên nhẫn nói cho ra lẽ:
-
Cậu nghĩ coi mỗi ngày tôi nấu một nồi cháo lòng được bao nhiêu tiền? Thấy con đi
làm thuê làm mướn, tôi đứt ruột đứt gan chớ đâu có vui vẻ gì, nhưng cố bậm môi
cho quạ Bây giờ chuyện đã như vậy. Nắng bề nào che bề nấy còn biết làm sao? Ông
Tài Phú chết vợ mấy năm, con cái đã có vợ chồng và đi tứ tán hết, còn một mình
ổng ở nhà coi sóc tiệm hàng xén không xuể... Nếu cậu không chịu thì tôi không
nghĩ tới nữa.
Năm Mẹo cười nhạt:
-
Cái số của chị là số chồng chệt.
-
Chệt đâu phải tệ cậu Năm. Họ còn cưng vợ hơn người mình nữa đó. Ông già thằng
Đặng...
-
Thôi đi chị Ơi!... Mai mốt ông Tài Phú về Tàu, rồi chị lại bỏ cho tôi nuôi em
thằng Đặng!
Nghe có tiếng xuồng khua lụp cụp ngoài hè, Năm Mẹo ngưng ngang bảo:
-
Thằng Đặng nó về đó, chị hỏi nó coi nó nói sao?
-
Tôi không hỏi đâu. Để mai mốt rồi cậu hãy hỏi. Nếu nó không chịu thì tôi cứ đi
bán cháo lòng hoài hoài chớ không buồn phiền chi hết. Sau khi thằng Đặng cưới
vợ, tôi sẽ về ở với nó. Nếu có con, tôi coi chừng cháu nội.
Thằng Đặng dựng sào ở mái chòi rồi lột chiếc nón lá vừa quạt vừa bước vộ Nó
chưng hửng khi thấy mà nó ngồi trong chòi. Nó kêu lên một tiếng “mà” rồi đi
thằng ra sau múc nước uống, và than:
-
Trời nắng khát nước muốn điên!
Năm Mẹo hỏi:
-
Mầy bỏ vịt ăn ở đâu mà về đây?
-
Cháu lùa nó xuống “con lươn” cho nó rỉa cá cạn.
-
Coi chừng tụi thằng Tư Cồ bắt lén đó.
-
Dạ, cháu mướn tụi nó một chục trứng coi chừng dùm.
-
Trứng đâu mà cho vậy?
-
Nội trứng rớt cũng đủ mà cậu. Lâu lâu cháu cho tụi nó một ít trứng hoặc một con
vịt đẹt đắp đất sét nướng ăn. Nếu không tụi nó gài bẫy bắt cũng vậy.
Năm Mẹo nhìn chị tư, ý bảo: Chị nói gì thì nói đi! Nhưng chị Tư chỉ hỏi thăm vài
việc làm ăn rồi về. Từ ngày Năm Mẹo đánh tiếng hỏi con gái ông Hương cho Đặng
thì chị không bắt nó đi gánh cháo lòng cho chị hằng sáng nữa. Làm như vậy mất
thể diện thằng rể ông Hương. Chị Tư không muốn nói chuyện đó với con và cũng
không muốn Năm Mẹo nói với chị trước mặt con. Năm Mẹo đã làm cho thằng cháu trở
thành chủ một bầy vịt hãng khá đông. Nó đã thoát khỏi cảnh ở đợ ăn cơm người ngủ
chuồng trâu hơn một năm. Nó chứng tỏ là một đứa bé biết nghe lời dạy bảo và
siêng năng làm lụng. Cậu Sáu khùng là người tới lui thường xuyên chòi này và ngỏ
ý muốn giúp thằng Đặng trong việc cưới em gái của cậu. Năm Mẹo chỉ cám ơn sự
giúp đỡ về tinh thần chớ không nhận sự giúp đỡ vật chất. Năm Mẹo muốn tỏ ra cho
bà con vùng này biết rằng “Thằng Mẹo chỉ nhờ bà con một lần. Đó là khi Mẹo chết
thì tiếp một tay khiêng đi chôn, còn sống thì Mẹo tư lo lấy một mình, không làm
phiền ai một chút”.
Tía của Mẹo là ông Bảy Mưu. Không hiểu đó là tên cúng cơm hay tục danh do cuộc
sống gán chọ Như ông Quản Đìa, ông Cả Trâu, ông Hội Đồng Gà v.v...
Có
điều lối xóm biết rõ là ông Bảy Mưu thuộc nằm lòng những tích truyện Tàu. Đám
giỗ nhà nào cũng mời ông tới, để sau khi đánh chén no say, kẻ nằm người ngồi,
gật gà gạt gù nghe ông Bảy kể chuyện Trận Xích Bích. Tam Tạng Đi Thỉnh Kinh.
Tiết Giao Đoạt Ngọc. Nhiều người nghe ông kể tới kể lui nhưng không nhàm tai. Ai
muốn kể chuyện nào ông kể chuyện nấy, ai hỏi tích truyện nào dù khó nhớ đến đâu
ông cũng trả lời ron rót. Nhưng ông thích nhứt là kể những mưu kế đánh giặc, đặc
biệt là trận Xích Bích. Ông bảo: “Đời này muốn hơn người phải lập mưu kế! Tào
Tháo bị trúng kế Khổng Minh mà thua trận Xích Bích phải bỏ ngựa chạy bộ, phải
vứt mão, cắt râu rồi từ đó lụng bại luôn. Nếu không có trận Xích Bích chưa biết
thế chân vạc sẽ ra sao?"
Lớn gọi là Mưu, nhỏ tên là Mẹo. Có lẽ với ý nghĩ này ông đặt tên cho con trai là
Mẹo chăng?
Một hôm ngôi nhìn con chơi ”U” với tụi trẻ xóm, ông thấy Mẹo vất vả mà cứ thua
hoài. Ông bèn bảo nhỏ: “Con không cần phải om eo ếch của địch. Khi nó đổ mồ hôi
thì trơn, ôm hay vuột, lại nữa nó lớn con, ôm nó vảy con văng ra, chi bằng con
thộp chân nó, nắm cổ chân cho thật chắt rồi lôi ngược lại, nó còn một chân không
thể nào bò về ranh được.”
Một lần khác nghe con học bài Quốc Văn “Đào Duy Từ nhặt quả bưởi”, ông bảo đem
sách lại cho ông xem. Rồi ông cắt nghĩa:
“Quả bưởi rơi xuống hố! Trò thì hì hục moi, trò vác cuốc đào bới. Chỉ có trò Đáo
Duy Từ sáng ý. Trò Từ múc một chậu nước mang đến đổ xuống hố. Tức thì trái bưởi
nổi lên. Đào Duy Từ nhặt liền quả bười khỏe ru và nhanh hơn các bạn. Đó là Mẹo.”
Ông tiếp “Con xem kìa. Chuột khoét dừa không dễ gì mình bắt được. Mình chỉ cần
cái rập là nó chết ngaỵ Đó cũng là Mẹo. Kìa cài hang chuột, muốn đào bắt được nó
phải tốn mố hôi. Ta chỉ cần cÿi xà vi và một mớ rơm. Đốt và quạt khói, trong
vòng vài phút cả mẹ lẫn con chui ra lọt cả vào xà vi, ta tóm gọn. Đó cũng là
Mẹo. Mẹo giúp cho ta ít tốn sức mà vẫn thành công trên đường đời.”
Ông cha chết rồi, nhưng bài học còn lại cho con như một gia tài. Năm Mẹo học lóm
của người Tàu cái Mẹo ấp trứng vịt bằng mặt trời. Mẹo thành công trong việc mở
lò bán vịt con cho cả vùng. Một hôm chở vịt con đi bán bị trạm xét đánh thuế.
Mẹo đóng tiền nhưng ức lắm. Về nhà nghĩ cách. Lần sau Mẹo chở trứng qua trạm
Trạm không đánh thuế trứng. Lần kế Mẹo chớ trứng cố nhiên không bị thuế. Nhưng
qua khỏi trạm thì trứng nở rộ ra vì đó là trứng ấp gần nở. Bằng cách đó Mẹo trốn
được thuế mà không ai có thể nói gì. Đó phải chăng là Mẹo?
Bây giờ Mẹo phải giải quyết hai chuyện. Đó là chị Tư có nên lấy ông Tài Phú
Xường hay không? Và việc cưới vợ cho thằng Đặng. Hai việc này có liên quan với
nhau. Và rất quan trọng. Mẹo đoán việc ông già thằng Đặng muốn gả má nó cho Tÿi
Phú Xường là có thật. Chắc không có cạm bẫy gì trong vụ này, nhưng phải dò xét
kỹ. Nếu thằng Đặng lọt vô cửa nhà này thì sẽ không bị lép vế đối với ông Hương
vì lão Tái Phú là tay có tiền của. Con trai của ông Tài Phú cưới con gái ông
Hương là môn đăng hộ đối quá rồi.